Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

THÔNG BÁO THỰC TẾ VĂN HỌC TẬP 18 - LỘC AN - SÔNG RAY



THƯ BÁO
(V/v tổ chức chuyến thực tế Văn học tập 18 cho học sinh khối 8-9)

Kính thưa các bậc phụ huynh!
Đã 11 năm trôi qua, kể từ chuyến thực tế Văn học đầu tiên năm 2003 được tổ chức tại Long Hải, cho đến hôm nay, chúng tôi đã thực hiện tiếp 17 chặng hành trình văn học cho các lớp học sinh của mình.
Đã có những lúc chúng tôi mệt mỏi muốn ngừng nghỉ.
Nhưng cho đến nay, hoạt động thực tế Văn học vẫn tiếp tục duy trì, cho dù chỉ còn lại mình tôi.
Tôi vẫn quyết định duy trì những chuyến Thực tế Văn học vì bản thân cảm thấy hạnh phúc khi thấy việc làm của mình có ý nghĩa. Học sinh của tôi có thể  tiếp cận với cuộc sống, các em thật sự vui thích khi thực hiện được phương châm sống: CHƠI MÀ HỌC. Bài viết các em có thể vẫn còn nhiều thiếu sót, nhưng nội dung trang viết sống động, có hồn hơn. Các em thật sự cảm thụ và có cái nhìn khác về một môn học dễ được xem là “ru ngủ” này.
Trong tập 18, các em học sinh lớp 9 được thực tế để làm tốt các đề làm văn tự sự kết hợp yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm trong BÀI VIẾT SỐ 3 (SGK – T1) học sinh lớp 8 sẽ thực hành  và  BÀI VIẾT SỐ 5 – thuyết minh về một địa danh lịch sử.
Chúng tôi rất mong quý phụ huynh nhiệt tình ủng hộ để các cháu được cơ hội vui chơi, học tập đúng nghĩa, để những giáo viên dạy Văn như chúng tôi có cơ hội truyền đạt kiến thức trực quan sinh động cho các em qua những chặng hành trình văn học.
*Ghi chú: Để đảm bảo chất lượng chuyến thực tế, khả năng chúng tôi chỉ nhận đăng kí khoảng 80 em. Bắt đầu nhận đăng kí từ khi thông báo cho đến khi vừa đủ số lượng dự kiến. Các em đăng kí tại trường Lương Thế Vinh cho thầy Đàm Quang Tôn hoặc đăng kí trực tiếp với thầy Nguyễn Long Giang.
                                GIÁO VIÊN  NGỮ VĂN
                                                           
                           ThS.  NGUYN LONG GIANG

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

GIẤY ĐỒNG Ý CỦA PHỤ HUYNH

Tôi tên : ………………………………………………Điện thoại:………………………
Là phụ huynh của em: ……………………………………………Lớp: …………………
Sau khi đọc qua thư báo, tôi đồng ý cho con tôi tham dự chuyến Thực tế Văn học tập 18 do Cơ sở BDVH 218 Lý Tự Trọng và thầy Nguyễn Long Giang tổ chức.

                                                                    Chữ kí của phụ huynh










CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẾ VĂN HỌC
Thời gian: 5g30 đến 18g ngày Chủ Nhật 20/10/2013
Địa điểm: Khu di tích Liệt sĩ Võ Thị Sáu - Biển Lộc An - Sông Ray.
Đối tượng: Học sinh lớp 8-9 của thầy Nguyễn Long Giang.
Phương tiện: xe đời mới, máy lạnh.
05h30 :
Học sinh tập trung tại 40 MẠC ĐỈNH CHI – Lễ xuất phát “Chuyến thực tế văn học – tập 18”.
05h45 :
Khởi hành đi Lộc An – Nghe HDV thuyết minh và sinh hoạt trên xe với những trò chơi vui.
07h00 :
Ăn sáng trên xe (bánh bao Thọ Phát – sữa hộp Milo) – Học sinh lớp 9 thực tế Đề 1 – Bài viết số 3 trên xe.
09h15 :
Viếng đài tưởng niệm chị Võ Thị Sáu, nghe giới thiệu về nữ anh hùng Miền Đông Đất Đỏ, tham quan nhà lưu niệm, nơi gắn liền với thời thơ ấu và những ngày đầu tham gia cách mạng của chị Sáu.
Gặp gỡ và giao lưu với Nhân Chứng sống của lịch sử (những chiến sĩ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu) – Học sinh lớp 9 thực tế đề 2 và 3 – bài viết số 3. Học sinh lớp 8 thực tế đề 1 bài viết số 5 – SGK văn 8 - tập 2.
10h00 :
Vào KDL Minh Trí (thuộc biển Lộc An), nhận khu vực đoàn (chòi mát, ghế bố) – Khởi động làm nóng cơ thể bằng một số trò chơi vận động trường.
Tự do tắm biển (có cứu hộ viên trực cứu hộ) và thưởng thức  hải sản tươi sống (phí tự túc).
12h30 :
Ăn trưa, nghỉ ngơi.
13h30 :
Khởi hành về TP.HCM – Viếng chùa Phước Hải (chùa Bún Riêu), thưởng thức bún riêu miễn phí,  cầu phúc, lộc, bình an cho gia đình, người thân và bạn bè, mua sắm quà lưu niệm  – Ghé Bò sữa Long Thành – Thưởng thức và mua sắm đặc sản địa phương.
15h30 :
Tiếp tục lộ trình về Tp.HCM.
18h00 :
Về đến điểm đón – Kết thúc chuyến tham quan.

Dịch vụ bao gồm:  Vận chuyển:              2 xe Aero Space 45 chỗ, video, máy lạnh suốt tuyến
Ăn uống:                      tiêu chuẩn 100.000đ/học sinh/ 2 bữa sáng & trưa.
                                       (ăn sáng: bánh bao Thọ Phát - sữa Milo -  Ăn trưa cơm phần). 
Nước uống:                2 chai Sapuwa 0,33 lít/ người/ ngày.
Bảo hiểm du lịch:    Mức bồi thường tối đa 10.000.000đ/ người/vụ.
Khác:          Vé tham quan, hương hoa viếng đài tưởng niệm, giao lưu cựu chiến binh.
 Vé vào cổng, ghế bố, tắm nước ngọt, tổ chức trò chơi vận động, âm thanh di động.
Nhân sự:                      Mỗi xe có 1 ướng dẫn viên, thuyết minh, hoạt náo và phục vụ.

 




Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

Đọc “Bài thơ về Tiểu đội xe không kính”




Đọc “Bài thơ về Tiểu đội xe không kính” nghĩ về những người lính chiến sỹ lái xe trong những năm  "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"
                                                      Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
                                                      Nào có sá chi đâu ngày trở về.
                                                      Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
                                                     Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
Khúc hát quen thuộc từ xa chợt vọng lại gợi trong lòng chúng ta biết bao suy tưởng. Chúng ta như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc theo tiếng hát sôi nổi trẻ trung và cũng bình dị như cuộc đời người lính. Không biết đã có bao nhiêu bài thơ nói về họ - những chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi. Tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ cứu nước là  Bài thơ về Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
-Bom đạn khốc liệt của chiến tranh làm cho những chiếc xe ấy không có kính. Cái hình ảnh thực này được diễn tả bằng hai câu thơ rất gần với văn xuôi lại có giọng thản nhiên pha chút ngang tàng, đọc lên nghe rất thú vị. Ba chữ “không” đi liền nhau với hai nốt nhấn “ Bom giật, bom rung” biểu lộ chất lính trong cách nói phóng khoáng hồn nhiên. Như vậy tác giả đi từ hiện thực khốc liệt, những chiếc xe vận tải bị bom Mỹ tàn phá để xây dựng lên một hình tượng thơ độc đáo và nhiều ý nghĩa.
Tác giả miêu tả những chiếc xe không kính nhằm làm nổi rõ hình ảnh những người chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn. Thiếu đi những điều kiện phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ. Những phẩm chất cao đẹp ấy được khắc hoạ 1 cách cụ thể và gợi cảm ở những dòng thơ tiếp theo.
 Trước hết là sự ung dung, bình tĩnh giữa chiến trường hiểm nguy.
Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “:gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăng ném.... vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. Dường như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế.
- Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế các anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vững vàng.... “ung dung.... nhìn thẳng. Hai câu thơ “ung dung.... thẳng” đã nhấn mạnh tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính. Hai chữ “ta ngồi” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh. Bầu không khí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy. Nhịp thơ 2/2/2 với những dấu phẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở nên chậm rãi, như diễn tả thái độ thản nhiên đàng hoàng. Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thành niềm vui thích. Chỉ có những người lính lái xe với kinh nghiệm chiến trường dày dạn, từng trải mới có được thái độ, tư thế như vậy.
 Những người lính trẻ rất yêu đời lạc quan, bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ.
 Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không nao núng. Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn. “mưa tuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưng đối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bận tâm, chúng lại như đem lại niềm vui cho người lính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầy niềm lạc quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thì ướt áo”. Những tiếng “ừ thì” vang lên như một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động,  một thái độ cứng cỏi. Dường như gian khổ hiểm nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.
 Sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lời hứa hẹn, quyết tâm vượt gian khổ hiểm nguy:”Chưa cần rửa.... khô mau thôi”. (Nếu chúng ta quen đọc, hoặc yêu thích nhưng vần thơ trau chuốt, mượt mà thì lần đầu tiên đọc những vần thơ này, có thể cảm thấy hơi gợn, ít chất thơ. Nhưng càng đọc thì lại càng thấy thích thú, giọng thơ có chút gì nghịch ngợm, lính tráng. Ta nghe như họ đương cười đùa, teeos táo với nhau vậy. Có lẽ với những năm tháng sống trên tuyến đường . Cái cười sảng khoái vô tư, khác với cái cười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ cười hồn nhiên ấy rất hiếm khi gặp trong thơ ca chống Pháp, nụ cười ngạo nghễ của những con người luôn luôn chiến thắng và tràn đầy niềm tin.)
Tình đồng chí, đồng đội gắn bó, yêu thương.
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong những phút dừng chân ngắn ngủi.  Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn và tình cảm. Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời. Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói. Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng. Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng.
 Ấy vậy mà những chiếc xe như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trên bom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Hình ảnh đậm nét. Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi.
Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái “trái tim” gan góc, kiên cường, giầu bản lĩnh và chan chứa tình yêu thương này. Phải chăng chính trái tim con người đã cầm lái? Tình yêu Tổ Quốc, tình yêu thương đồng bào, đồng chí ở miền Nam đau khổ đã khích lệ, động viên người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn gian khổ, luôn lạc quan, bình tĩnh nắm chắc tay lái, nhìn thật đúng hướng để đưa đoàn xe khẩn trương tới đích?
Ẩn sau ý nghĩa trái tim cầm lái, câu thơ còn muốn hướng người đọc về một chân lí của thời đại chúng ta: sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ... mà là con người- con người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững chắc. Có thể nói, bài thơ hay nhất là câu thơ cuối cùng này. Nó là nhãn tự, là con mắt của bài thơ, bật sáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong thơ.
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là bài thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam thời chống Mĩ. Bài thơ gợi lại bao kỷ niệm hào hùng của người chiến sĩ lái xe nơi Trường Sơn khói lửa. Đọc xong bài thơ, ta càng hiểu hơn về các chiến sĩ lái xe, về lòng dũng cảm, tư thế hiên ngang bất khuất của họ. Ta cũng thấy được chất tinh nghịch hồn nhiên của mỗi người lính trẻ. Chiến tranh đã qua đi nhưng lời thơ của Phạm Tiến Duật vẫn còn văng vẳng đâu đây cái chất vui tươi khỏe khoắn yêu đời của cả một thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.
                                                                                                Tháng Tư năm 2013
                                                                                                           Đức Hà
 Nguồn: http://thcsphuonghung.pgdgialoc.edu.vn/pgl/doc-Bai-tho-ve-Tieu-doi-xe-khong-kinh--t11548-10525.html

Nhà thơ Phạm Tiến Duật



Nhà thơ Phạm Tiến Duật: Lang bang trong cõi mộng du
 (GD&TĐ) - Nói đến thơ ca thời kỳ chống Mỹ cứu nước, không thể không nhắc đến là nhà thơ Phạm Tiến Duật. Ông như thể được sinh ra để làm thơ về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta và để trở thành một trong những đỉnh cao của thơ ca thời kỳ này.
Viễn du ra mặt trận
Vào thời điểm ấy, nhu cầu được cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc sôi sục trong huyết quản thế hệ trẻ chúng tôi. Phạm Tiến Duật không phải là trường hợp ngoại lệ. Thế nhưng, còn có một lối đi khác, lối đi vào thi ca thì không phải ai cũng có cơ may như anh. Ông tham gia chiến đấu với tư cách một phóng viên mặt trận nhưng gian khổ như một người lính chiến thực thụ. Ông là người chứng kiến sự ác liệt, hy sinh, nỗi đau thể xác và tinh thần của những người lính trong những năm tháng chiến tranh gian khổ và ác liệt, hơn là một sự trải nghiệm đau đáu về những vết thương ấy. Điều đó đã được phản ánh khá rõ trong thơ ông. Những bài thơ để lại dấu ấn trong lòng công chúng yêu thích thơ ca thời chống Mỹ như: “Lửa đèn”, “Tiểu đội xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn Tây”… Những bài thơ này đã đưa ông lên vị trí hàng đầu của thơ ca Việt Nam thời kỳ chống Mỹ với Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật, đợt IV, năm 2012.
Sau này, khi chiến tranh ngày càng lùi sâu vào quá vãng, không ít người đã  ghi nhận sự lãng mạn, có khi như “lên đồng”, như kẻ “mộng du” trong thơ Phạm Tiến Duật. Còn ông lại nghĩ khác, đời mình là một cuộc phiêu bạt cùng số kiếp. Thuở nhỏ, dường như việc đi bộ hàng chục cây số để đến trường đã nuôi trong ông mầm mống của một kẻ phiêu bạt đó đây. Lên cấp ba thì đi trọ học ở xa nhà, sau đấy xuống Hà Nội học Đại học Sư phạm. Trước khi vào chiến trường, ông thường đi chiếc xe đạp sơn màu xanh lá cây, trên khung xe ghi hai chữ “chống Mỹ” và cùng với chiếc ba lô con cóc. Một ngày đẹp trời ông quẳng chiếc xe đạp lên thùng xe tải, rong ruổi theo những đoàn xe vận tải chở hàng hóa, súng đạn vào chiến trường.
Sự lãng mạn bất cẩn
Từ đó, con đường ra trận trong mắt anh sinh viên vừa mới tốt nghiệp trở thành đường ra trận “mùa này đẹp lắm”, một cái đẹp đầy chất lãng mạn cách mạng và chỉ có những người như Phạm Tiến Duật mới có được mà thôi. Ngay chính ông cũng không dễ gì lý giải một cách thấu đáo được tại sao mình lại làm như vậy, nhưng chỉ biết lúc ấy cứ thế mà đi, mà làm thơ, mà trở thành thi sĩ.
Sau này, ông bộc bạch:  “Tất cả giấy tờ, của tôi để lại ở Cục Vận tải, tôi cứ thế phiêu bạt dần vào mặt trận. Tôi không hề biết lái xe ô-tô, tôi chỉ cùng với những người lính vận tải, bám theo xe nọ, nối gót theo xe kia. Không có ai cử đi công tác mà tôi tự đi, tôi theo những người lính vào mặt trận. Đến khi vào sâu chiến trường, tôi gửi xe đạp ở nhà dân trong làng rồi cứ thế đi tiếp,… 
Chính cái cách ra trận có vẻ như “bất cẩn” của những người như ông cùng những gì mà các ông tận mắt chứng kiến từ cuộc chiến tranh khốc liệt đã giúp nhiều văn nghệ sĩ cùng thế hệ có được những tác phẩm hay vào bậc nhất nhì của một phong trào thi ca lúc bấy giờ. Theo ông, vào lúc đó, việc sáng tác thơ người ta không còn câu nệ vào vần điệu và cú pháp cổ điển nữa mà lấy vần điệu của cuộc sống chiến đấu trên chiến trường làm gốc cho chữ nghĩa.
Phạm Tiến Duật vừa là người ở trong cuộc, vừa là người ở ngoài cuộc chiến tranh chống Mỹ. Phần ở trong, đã cho ông những dữ liệu của đời sống thực nơi chiến trường. Phần ở ngoài cho ông cái bồng bềnh, mơ mộng và lãng mạng của một thi sĩ trí thức, ít nhiều pha chút chất “lạc quan tếu”. Cả hai đã tạo cho ông có những giây phút thăng hoa trong các bài thơ mà ông đã viết trong những năm tháng đó. Những người như ông thường đau cùng nỗi đau thực của người lính nhưng lãng mạn hơn cái lãng mạn thực của người lính giữa nơi đạn bom và máu lửa ấy.
Mệnh lệnh trái tim
Có thể do tố chất và năng khiếu bẩm sinh của một thi sĩ trong ông, Phạm Tiến Duật đã chọn khía cạnh lãng mạn của người lính chiến, hay đúng hơn là cuộc đời đã hướng ông đến với sự lãng mạn nhiều hơn là nỗi đau của cuộc chiến: “Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi/ Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng/.../ Không có kính, ừ thì có bụi/ Bụi phun tóc trắng như người già/ Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc/ Nhìn nhau mặt lấm, cười ha ha…”
Sự lạc quan đến duy ý chí của Phạm Tiến Duật khiến những ai không bước ra từ cuộc chiến đó thấy rất khó để hình dung và chấp nhận được. Nhưng ở vào thời điểm đó, Phạm Tiến Duật đã thực sự có lý hay nói đúng hơn cuộc chiến tranh thần kỳ của dân tộc đã cho ông một cái lý, cái quyền quên đi những gian nan, vất vả, thiếu thốn trăm bề, thậm chí cả sự hy sinh xương máu. Bởi lẽ trong chiến tranh mọi cái đều có thể xảy ra nên mọi người cần phải lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng ngày mai. Đó dường như là mệnh lệnh trái tim của những người lính, của những thi sĩ và cả dân tộc ta thời ấy.
Hoa Thanh

NHÀ THƠ TRƯỜNG SƠN PHẠM TIẾN DUẬT
Phạm Tiến Duật sinh ngày 14/1/1941, tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Cha anh là nhà giáo, dạy chữ Hántiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng. Anh tốt nghiệp Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ. Vào chiến trường, anh trở thành phóng viên báo Trường Sơn, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Trường Sơn.  Sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn cũng là thời gian Phạm Tiến Duật sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Anh đã sống cuộc sống của người lính Trường Sơn tại nhiều đơn vị, nhiều trọng điểm ác liệt của tuyến đường mang tên Bác. Thực tiễn cuộc sống đã “bước vào” thơ của anh một cách sống động, tự nhiên và đầy chất lính. Có thể nói: Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng đường Trường Sơn.  
Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Chiến tranh kết thúc, anh chuyển ngành về công tác tại báo Văn nghệ, sau đó làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, rồi làm Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Đối ngoại, Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam. Anh cũng là người dẫn chương trình ấn tượng của chương trình dành cho người cao tuổi của kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam.
Phạm Tiến Duật được kết nạp Đảng tại Trường Sơn. Anh được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.
Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật.
8 giờ 50 phút ngày 4 tháng 12 năm 2007, nhà thơ Trường Sơn Phạm Tiến Duật đã mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi.
           Phạm Tiến Duật đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ anh là một người lính Trường Sơn. Thơ của anh được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: Giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái "tinh nghịch" nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của Phạm Tiến Duật đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là ca khúc "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây". Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đã thấy vài người mô phỏng. Khó vì giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa. Điều đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Kháng chiến chống xâm lược Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn. Hy sinh lớn, gian khổ nhiều. Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không được gây bi lụy, xót thương. Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng người. Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ dằn của thực tế chiến tranh. Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ hồi ấy. Nhiều người không vượt được. Phạm Tiến Duật vượt được, trước hết nhờ vào cái giọng đó.
Phạm Tiến Duật được ca tụng là "con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại", "cây săng lẻ của rừng già”, "nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”
Tháng 5/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cố nhà thơ Trường Sơn Phạm Tiến Duật về cụm tác phẩm thơ về Trường Sơn của nhà thơ.
                                                Hồng Châu tổng hợp và giới thiệu.

Tìm hiểu bài thơ "Đồng chí "của Chính Hữu.




DÀN Ý CHI TIẾT
I. Mở bài :
- Giới thiệu tác phẩm :Đồng chí, tác giả : Chính Hữu.
- Hoàn cảnh sáng tác : đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt bắc .
Vào những năm kháng chiến chống Pháp, đất nước ta sục sôi ý chí, quyết tâm đánh giặc. Hoà mình vào khí thế ấy đã có hàng vạn , hàng triệu thanh niên nhập ngũ. Những chiến sĩ dũng cảm, can trường ấy đã trở thành một hình tượng, một đề tài trong thơ ca thời đó. Một trong những bài thơ rất hay về người chiến sĩ, về tình đồng đội là bài Đồng chí của nhà thơ lính Chính Hữu.
II. Thân bài :
1.Cơ sở hình thành tình đồng chí :
- Tình đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính :
"Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá".
"Anh" ra đi từ vùng "nước mặn đồng chua", "tôi" từ miền "đất cày lên sỏi đá". Hai miền đất xa nhau, "đôi người xa lạ" nhưng cùng giống nhau ở cái "nghèo". Hai câu thơ giới thiệu thật giản dị hoàn cảnh xuất thân của người lính :họ là những người nông dân nghèo.
- Tình đồng chí hình thành từ sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu :
"Súng bên súng, đầu sát bên đầu"
Họ vốn "chẳng hẹn quen nhau" nhưng lý tưởng chung của thời đại đã gắn kết họ lại với nhau trong hang ngũ quân đội cách mạng. "Súng" biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu, đầu biểu tượng cho lý tưởng, suy nghĩ. Phép điệp từ (súng, đầu, bên) tạo nên âm điệu khoẻ, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùng chung lý tưởng, cùng chung nhiệm vụ.
- Tình đồng chí nảy nở và bền chặt trong sự chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui :
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ.
Cái khó khăn thiếu thốn hiện lên : đêm rét, chăn không đủ đắp nên phải "chung chăn". Nhưng chính sự chung chăn ấy, sự chia sẻ với nhau trong gian khổ ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của những người đồng đội để trở thành "đôi tri kỷ".
* Đến đây, nhà thơ hạ xuống một giọng thơ thật đặc biệt với hai tiếng : "Đồng chí!"  câu thơ ngắn, cùng với hình thức cảm thán mang âm điệu vui tươi, vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định,. Hai tiếng "đồng chí" nói lên một tình cảm lớn lao, mới mẻ của thời đại .
=> Sáu câu thơ đầu đã giải thích cội nguồn và sự hình thành của tình đồng chí giữa những người đồng đội. Câu thơ thứ bảy như một cái bản lề khép lại đoạn thơ một để mở ra đoạn hai.
2. Những biểu hiện cảm động của tình đồng đội :
- Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình :
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng những gì yêu quý nhất của quê hương : ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa,... Từ "mặc kệ"cho thấy tư thế ra đi dứt khoát của người lính. Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi.
- Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính :
"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vừng trán ướt mồ hôi.
Aùo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay."
Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến chống pháp hiện lên rất cụ thể, chân thực : áo rách, quần vá, chân không giày, ...Sự từng trải của đời lính đã cho Chính hữu "biết"được sự khổ sở của những cơn sốt rét rừng hành hạ : người nóng sốt hầm hập đến ướt cả mồ hôi mà vẫn cứ ớn lạnh đến run người. Và nếu không có sự từng trải ấy, cũng không thể nào biết được cái cảm giác của "miệng cười buốt giá" : trời buốt giá, môi miệng khô và nứt nẻ, nói cười rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu. Thế nhưng, những người lính vẫn cười trong gian lao, bởi họ có hơi ấm và niềm vui của tình đồng đội "thương nhau tay nắm lấy bàn tay". Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở "chân không giày" và thời tiết "buốt giá". Trong đoạn thơ , "anh" và "tôi" luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ, có khi đi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau. Cấu trúc ấy đã diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội.
* Liên hệ mở rộng : Tình đồng đội trong bài "Những ngôi sao xa xôi" - Lê Minh Khuê.
3. Đoạn kết :
- Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng một hình ảnh thơ thật đẹp :
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới". Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút "chờ giặc tới". Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả...
- Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc : "Đầu súng trăng treo". Đó là một hình ảnh thật mà bản thân Chính Hữu đã nhận ra trong những đêm phục kích giữa rừng khuya:"...suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc nó như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn ; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật...".
- Nhưng nó còn là một hình ảnh thơ độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú sâu xa.
+ "Súng " biểu tượng cho chiến tranh , cho hiện thực khốc liệt. "Trăng" biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn.
+ Hai hình ảnh "súng" và "trăng" kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính : chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến - một nền thơ giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng mạn.
+ Vì vậy, câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ - tập "Đầu súng trăng treo".
+ Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính.
III. Kết bài :
- Tóm tắt các ý đã phân tích.
- Liên hệ bản thân.
Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bài thơ đã làm sống lại một thời khổ cực của ông cha ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.
Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp sóng đô, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang . Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng , như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng, không bao giờ tắt, ngọn lửa tháp sáng đêm đen của chiến tranh.
(Nguồn: http://vanthoviet.com/news/n/508/568/)