Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

PHỎNG VẤN NHÀ THƠ VIỄN PHƯƠNG VỀ BÀI THƠ “VIẾNG LĂNG BÁC”



VNQĐ – Trong hai cuộc kháng chiến, nhà thơ Viễn Phương hoạt động ở Nam Bộ, và đã sáng tác nhiều bài thơ về Bác Hồ. Có bài tác giả viết khi bị địch giam cầm ở các trại giam Phú Lợi, Lê Văn Duyệt, không có giấy bút, Viễn Phương sáng tác thầm trong đầu và đọc cho các đồng chí cùng khám nghe. Kỳ diệu thay, Viễn Phương chỉ đọc một vài lần, mọi người đều thuộc, rồi những khi bị địch bắt đi lao động, họ lại đọc cho bạn tù ở khám khác nghe, cứ vậy thơ Viễn Phương được lan truyền trong nhà tù. Phải đến bài thơ Viếng Lăng Bác, Viễn Phương mới thực sự có một bài thơ hay về Bác. Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa ông và phóng viên VNQĐ
PV: Thưa nhà thơ Viễn Phương, trong một lần nào đó, tôi được đọc một bài viết của anh Lê Quang Vịnh trên báo Sài Gòn Giải phóng, kể rằng: “Lúc tôi 25 tuổi, bị bọn Mỹ – Diệm kết án tử hình rồi chuyển thành trung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo. Trong chuồng cọp, địa ngục trần gian của nhà tù ấy, tôi bị bắt buộc phải nằm dưới hầm suốt ngày…”. Trên vách chuồng cọp, tôi thấy chi chít những chữ ghi bằng nhiều cách khác nhau. Có những dòng được khắc trên vôi bằng cái xương cá mắm. Có những chữ bằng máu, có những ghi bằng than. Tôi đọc được bài thơ dài, chỗ này ghi một đoạn, chỗ khác ghi một khúc ráp lại rất vần với nhau.
Cha già ơi
Hôm nay mười chín tháng năm
Lòng con sáng tựa đêm rằm trung thu
Con đang chúc thọ dưới mồ
Con đang dựng một rừng cờ trong tim
Đêm nay mộng hóa thành chim
Bay qua lưới sắt con tìm đến cha
Sau này mới biết là thơ Viễn Phương, bài Chúc thọ dưới mồ. Tôi nghĩ rằng đó cũng là hạnh phúc lớn của nhà thơ: Góp phần mình vào công cuộc giải phóng đất nước.
Nhà thơ Viễn Phương: Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc ta là nguồn cảm hứng vô tận của người sáng tạo văn, thơ, nhac, họa. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, các nhà thơ sống ở Nam Bộ đều có những tác phẩm viết về Bác. Trong nhà tù của giặc, tôi luôn luôn nghĩ về Bác. Bác là nguồn động viên, cổ các chiến sĩ trong nhà tù. Tôi đã viết bài thơ Chúc thọ dưới mồ, được các đồng chí trong tù thuộc, truyền cho nhau. Tuy lời thơ còn mộc mạc nhưng là tấm lòng thành kính của tôi đối với Người.
PV: Phải đến khi đất nước thống nhất, ra thăm miền Bắc, anh mới có Viếng Lăng Bác, đầy đủ độ chín và ngôn từ. Anh có thể cho biết bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?
Nhà thơ Viễn Phương: Khi Bác còn sống, nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Nhưng rồi, ước mơ ấy không được toại nguyện. Khi miền Nam giải phóng, mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc, viếng lăng Bác. Năm 1976, tôi ra Hà Nội, được đến viếng Bác.
Sáng hôm ấy mưa phùn, Hà Nội lây phây trong gió rét, tôi được nối vào dòng người vào lăng Bác. Chúng tôi đi từ hướng chùa Một Cột. Sương toả mênh mông, những hàng tre xanh sẫm, những gốc đào hoa đỏ rực… Tất cả đều thiêng liêng. Đến bên Bác, ai cũng muốn dừng thật lâu. Bác nằm đó, thanh thản, giản dị, hiền từ như đang ngủ. Anh sáng dịu dàng toả xuống như giữa một đêm trăng thanh miền thôn dã. Tôi không cầm nổi nước mắt.
Ra khỏi lăng, tôi đi như người mộng du và tứ thơ bật ra:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.
Lời thơ thật giản dị. Tôi nghĩ, Bác của chúng ta vốn giản dị, Người ghét sự cầu kỳ, làm dáng. Giản dị, trong sáng, sâu sắc cũng là bao quát trong thơ Bác. Tôi viết như là ý nghĩ của mình. Và, đó cũng là tâm tư của nhân dân và chiến sĩ ở Nam Bộ với Bác.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Mặt trời của vũ trụ đối với mặt trời trong lăng. Đó cũng là hàm chứa sự vĩnh cửu của sự nghiệp Bác Hồ tạo dựng và nhân dân ta, Đảng ta đã thực hiện: xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như di chúc của Bác.
Hoa tươi là nét đẹp của thiên nhiên, hàng ngày dâng lên Bác rất nhiều nhưng tôi nghĩ đến:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng Bảy mươi chín mùa xuân
Dòng người vây quanh Bác trở thành hoa. Và dâng cho Bảy mươi chín mùa xuân, là hoa tươi của cuộc sống.
Toàn bài Viếng Lăng Bác mang một không khí trang nghiêm, thành kính. Đoạn kết, tôi muốn nói lên tình cảm của nhân dân, chiến sĩ miền Nam hứa với Bác:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Nguồn: Báo VNQĐ

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Trường trung học Thực hành tuyển 90 học sinh lớp 10 chuyên

TTO - Trường trung học Thực hành (Đại học Sư phạm TP.HCM) vừa có thông báo tuyển 90 học sinh lớp 10 chuyên (toán, văn, tiếng Anh) năm học 2013-2014.
 Học sinh được tham gia dự tuyển khi tốt nghiệp THCS năm học 2012-2013 trong cả nước và xếp loại tốt nghiệp từ khá trở lên; xếp loại hạnh kiểm, học lực cả năm học của các lớp cấp THCS từ khá trở lên. Thí sinh sẽ thi 4 môn: toán, văn, tiếng Anh (hệ số 1) và môn chuyên (hệ số 2). Đề thi được biên soạn theo hình thức tự luận, riêng môn tiếng Anh được áp dụng cả hai hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Điểm xét tuyển vào lớp chuyên là tổng số điểm các bài thi không chuyên, điểm bài thi môn chuyên tương ứng với lớp chuyên (đã tính hệ số).
Trường chỉ xét tuyển đối với thí sinh đủ điều kiện dự tuyển, dự thi đủ các bài thi, không vi phạm quy chế trong kỳ thi tuyển sinh và các bài thi đều đạt điểm lớn hơn 2.  
Được biết, khối lớp chuyên này do Trường trung học Thực hành - ĐH Sư phạm kết hợp với giảng viên các khoa toán - tin, ngữ văn và tiếng Anh của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM chịu trách nhiệm cùng đào tạo.
Trường sẽ phát hồ sơ từ ngày 21 đến 23-5-2013 tại 280 An Dương Vương, P.4, Q.5, TP.HCM.
Lịch thi:
NGÀY
BUỔI
GIỜ LÀM BÀI
MÔN THI
15-6-2013
Sáng
8g00 - 10g00
Toán cơ bản
15-6-2013
Chiều
14g00 - 16g00
Ngữ văn cơ bản
16-6-2013
Sáng
8g00 - 9g30
Tiếng Anh cơ bản
16-6-2013
Chiều
14g00 - 16g30
Các môn chuyên

H.HG
Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuyen-sinh/541077/truong-trung-hoc-thuc-hanh-tuyen-90-hoc-sinh-lop-10-chuyen.html

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

PHÂN TÍCH BÀI THƠ VIẾNG LĂNG BÁC



Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình này đã ghi lại tình cảm sâu lắng, thành kính cảu nhà thơ khi hoà vào dòng người viếng lăng Bác. Bài thơ cũng là tiếng nói, là nỗi niềm tâm sự của nhận dân Nam bộ và nhân dân cả nước dành cho Bác. 
Mở đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả khi vừa bước chân vào lăng. Nhà thơ xưng “con” và gọi “Bác”; lời thơ giản dị, mộc mạc mà chát chức bao tình cảm gần gũi, thân thương, kính trọng chủ tịch Hồ Chí Minh của ông. Điều đó càng cho thấy Bác là một con nguời rất hoà đồng và gần gũi. Chính vậy nhà thơ Tố Hữu có viết “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Chi tiết thơ “Con ở miền Nam” còn mang một sắc thái đầy xúc động. Khúc ruột miền Nam là miền đất xa xôi mà Bác không nguôi ngóng chờ, cho đến những ngày trước luc lâm chung thì trái tim Người vẫn luôn huớng về miền Nam ruột thịt. Nơi đó có biết bao đồng bào ta đang ngày đêm chiến đấu và anh dũng hy sinh vì một ngày mai nước nhà thống nhất. Nhưng…Bác đã không chờ được đến ngày đó. Người đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng để lại muôn vàn niềm thương tiếc cho nhân dân ta. Câu thơ đầu gọn như một lời thông báo nhưng lại chứa chan bao tình cảm xúc động, bồi hồi của tác giả đối với vị cha già kính yêu của dân tộc. 
Và trong cái mênh mang sương mù của mọt ngày mùa thu Hà Nội, qua con mắt thi nhân của Viễn Phương, ta chợt tìm thấy một “hàng tre” Việt Nam. Đến với Bác, đến với hàng tre, ta như đến với quê hương làng mạc, đến với mái nhà tranh âm vang lời ru của bà, của mẹ; đén với Bác là đến với dân tộc mình, thế mới đẹp làm sao! Hình ảnh nhân hoá hàng tre “bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” còn là biểu tượng bất diệt của con người Việt Nam kiên cường, bất khuất biền bỉ. Màu xanh của tre chính là màu xanh của sức sống Việt Nam, màu xanh của hy vọng, hạnh phúc và hoà bình. Đây quả là một tứ thơ độc đáo, giàu ý nghĩa tượng trưng: 
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác 
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát 
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam 
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàg” 
Và nhà thơ phải kính yêu Bác lắm mới viết được những hình ảnh ẩn dụ tài tình này: 
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng 
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” 
Cũng là “mặt trời” nhưng “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, ngày ngày tỏ sáng, đem sự sống cho muôn loài, vạn vật, nó cũng có lúc quạnh quẽo, u ám. Còn “mặt trời” của nhân dân Việt Nam. “Mặt trời trong lăng” thì vẫn luôn chiếu ánh sáng vĩnh hằng, đỏ mãi. Bác chính là vầng mặt trời hồng toả tia sáng soi rọi con đường giúp dân tộc ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, là sức mạnh giúp nhân dân ta chèo lái con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đi đến bờ thắng lợi. Dù rằng đã ra đi mãi mãi nhưng Bác vẫn luôn bất tử, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn trường tồn, soi đường dẫn lối cho dân tộc ta đứng lên. 
Hoà nhịp với gần trăm triệu bàn chân Việt Nam, hàng triệu bàn chân lao động trên thế giới, Viễn Phương bùi ngùi xúc động bước vào lăng: 
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ 
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” 
Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác được tác giả ví như nhưng trànghoa dâng lên người. “Bảy mươi chín” tràng hoa, ấy là bày mươi chín màu xuân, bày mươi chín năm cống hiến, hy sinh hết mình của Bác đối với dân tộc và nhân dân ta. Và quả thật, Bác chính là mùa xuân, và mùa xuân ấy đã làm cho cuộc đời người dân VN nở hoa. Điệp ngữ “ngày ngày” đứng mỗi ý thơ giữ vị trí “nhãn tự”, vừa thể hiện một qui luật trình tự của dòng người vào lăng viếng Bác, lại vừa thể hiện một qui luật tự nhiên của tạo hoá. 
Đứng trước sự vĩ đại, to lớn của Bác, ta cũng vô thức bị dòng thơ cuốn và trong lăng lúc nào không hay: 
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên 
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền 
Vãn biết trời xanh là mãi mãi 
Mà sao nghe nhói ở trong tim” 
Bác đang nằm đây, ngay trước mắt nhà thơ, hiền hậu, nhân từ như một vầng trăng “dịu hiền”, mát mẻ mà vãn trong sáng rạng ngời.Ta có cảm giác như Bác vẫn chưa đi xa, vẫn chưa rời khỏi thế gian này mà Người đang ngủ đấy thôi. Lí trí thì nói bác đang ngủ, nghĩa là Bác vẫn còn sống mãi với đất nước, với dân tộc ta như trời xanh còn mãi trên đầu. Mỗi ngày ngẩng đầu nhìn ta lại thấy trời xanh, lại thấy Bác. Bác không bao giờ mất, Bác sống mãi cùng dân tộc ta, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi sự việc mà chúng ta làm vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Ta biết thế, ta nghĩ thế nhưng sao tim ta vẫn “đau nhói”, mắt ta vẫn trào dâng khi nhận ra rằng: Bác đã không còn nữa! Khổ thơ thứ hai và ba là một chuỗi các hình ảnh vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh lồng vào nhau như để ca ngời tầm vóc lớn lao của Bác; đồng thời thể hiện lòng tôn kíh vô hạn của tác giả, của nhân dân đối với vị cha già kính yêu của dân tộc. 
Bài thơ bắt đầu bằng sự kiện “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” và cũng kết thúc bằng chi tiết “Mai về miền Nam”. Đây là giờ phút sắp chia tay với Bác, tâm trạng nhà thơ tràn đầy niềm cảm thương xen lẫn bùi ngùi, lưu luyến. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh cuờng điệu: “Thương trào nước mắt” : 
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt 
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác 
Múon làm đóa hoa toả hương đâu đây 
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” 
Tình thương xót nén giữa tam hồn đã làm nảy sinh bao ước muốn: “muốn là con chin” để dâng lên tiếng hót vui, “muốn là đoá hoa” dâng hương thơm ngát, “muốn làm cây tre trung hiếu” canh gác chi giấc ngủ yên lành của Bác. Nhịp điệu khổ thơ lúc này dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần và các hình ảnh liên tiếp xuất hiện như một dòng khát khao mãnh liệt của nhà thơ muốn được gần Bác mãi mãi.
Bằng tất cả tình cảm chan thành, Viễn Phương đã làm “Viếng lăng Bác” trở thành một bản tình ca bất tận để lại ấn tượng sâu sắc cho bao người dân Việt Nam. Bài thơ hay không chỉ vì các nghệ thuật, kĩ xảo độc đáo mà quan trọng hơn, đó là sự kết hợp nhuần nhị giữa cái “tâm” của một nguời con yêu nước và cái “tài” của người nghệ sĩ. Rất nhiều năm tháng đã đi qua nhưng mỗi thế hệ đọc lại “Viếng lăng Bác” đều đón nhận vào tâm hồn mình một ánh sáng tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và đồng thời cũng thấm nhuần vẻ đẹp trong suốt, lấp lánh toả ra từ chính cuộc đời, trí tuệ và trái tim Bác Hồ.
Nguồn: Báo Giáo dục TpHCM (http://giaoduc.edu.vn/)

Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa pa của Nguyễn Thành Long

Gấp lại truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa ”của Nguyễn Thành Long lòng ta cứ xao xuyến vấn vương trước vẻ đẹp của những con người ,trước những tình cảm chân thành, nồng hậu trong một cuộc sống đầy tin yêu. Dù được miêu tả ít hay nhiều nhân vật nào của “Lặng lẽ Sa pa” cũng hiện lên với nét cao quí đáng khâm phục.Trong đó anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai mờ.
 Trước tiên anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời,yêu nghề ,ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình.Trong lời giới thiệu với ông hoạ sỹ già và cô gái,bác lái xe gọi anh là “người cô độc nhất thế gian”.Đã mấy năm nay anh “sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m bốn bề chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo”.Công việc hàng ngày của anh là“đo gió,đo mưa ,đo chấn động mặt đất”rồi ghi chép,gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm.Nhiều đêm anh phải “đối chọi với gió tuyết và lặng im đáng sợ”.Vậy mà anh rất yêu công việc của mình.
Anh quan niệm:“khi ta làm việc ta với công việc là đôi,sao gọi là một mình được?”Anh hiểu rõ : “Công việc của cháu gian khổ thế đấy,chứ cất nó đi,cháu buồn đến chết mất”.Sống một mình nhưng anh không đơn độc bởi “lúc nào tôi cũng có người để trò chuyện.Nghĩa là có sách ấy mà ”.

Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc,biết sắp xếp lo toan cuộc sống riêng ngăn nắp, ổn định.Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách,thỉnh thoảng anh xuống đường tìm gặp bác lại xe cùng hành khách để trò chuyện cho vơi bớt nỗi nhớ nhà.

Sống trong hoàn cảnh như thế sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn.Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “ thèm người ”,lòng hiếu khách đến nồng nhiệt và sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo.Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu ,lòng mến khách ,nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sỹ già và cô kỹ sư trẻ.Niềm vui được đón khách dào dạt trong anh,toát lên qua nét mặt,cử chỉ:anh biếu bác lái xe củ tam thất,mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ,hồ hởi đón mọi người lên thăm “nhà”,hồn nhiên kể về công việc,đồng nghiệp và cuộc sống của mình nơi Sa pa lặng lẽ.Khó người đọc nào có thể quên,việc làm đầu tiên của anh khi có khách lên thăm nơi ở của mình là:hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái lần đầu quen biết.Bó hoa cho cô gái ,nước chè cho ông hoạ sỹ già, làn trứng ăn đường cho hai bác cháu…Tất cả không chỉ chứng tỏ đó là người con trai tâm lý mà còn là kỷ niệm của một tấm lòng sốt sắng , tận tình đáng quí .

Công việc vất vả ,có những đóng góp quan trọng cho đất nước nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn.Anh cảm thấy đóng góp của mình bình thường,nhỏ bé so với bao ngừơi khác.Bởi thế anh ngượng ngùng khi ông hoạ sỹ già phác thảo chân dung mình vào cuốn sổ tay .Con người khiêm tốn ấy hào hứng giới thiệu cho ông hoạ sỹ những người khác đáng vẽ hơn mình:“Không,không ,bác đừng mất công vẽ cháu,để cháu giới thiệu cho bác những người khác đáng vẽ hơn.”Đó là ông kỹ sư ở vườn rau vượt qua bao vất vả để tạo ra củ su hào ngon hơn,to hơn.Đó là “người cán bộ nghiên cứu sét,11 năm không xa cơ quan lấy một ngày”…Dù còn trẻ tuổi,anh thấm thía cái nghiã,cái tình của mảnh đất Sa pa,thấm thía sự hy sinh lặng thầm của những con người đang ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước .

Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng ,những chi tiết chân thực tinh tế ,ngôn ngữ đối thoại sinh động Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ mà thú vị nơi Sa pa lặng lẽ.Chưa đầy 30 phút tiếp xúc với anh thanh niên,khiến người hoạ sỹ già thêm suy ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện hết được và còn làm cô kỹ sư trẻ lòng bao cảm mến bâng khuâng …

Với truyện ngắn này ,phải chăng nhà văn muốn khẳng định:Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu,hy sinh lớn lao và thầm lặng?Những con người cần mẫn,nhiệt thành như anh thanh niên ấy, khiến cuộc sống này thật đáng trân trọng,thật đáng tin yêu .
(SGK Ngữ Văn 9 - Tập 2 - NXB GD)

Cảm nghĩ của em về bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh

Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên ,nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà, đồng điệu .Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế ,sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu”
Bài thơ là những cảm nhận ,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ :

Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,

Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm , hương thơm lựng , vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .Và không chỉ có thế ,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn :

Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.


Sương thu đã được nhân hoá ,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu ,gió thu, thi sĩ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về? Tâm hồn thi sĩ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn ,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi :

Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã


Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại, những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái , hữu tình và chứa chan thi vị , đặc biệt là hình ảnh :

Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu .

Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ, trắng xốp, kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi , nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang , hạ chưa qua hết , mùa thu vừa chớm , rất nhẹ , rất dịu , rất êm , mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời :

Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi .


Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây , song chỉ là “vẫn còn” , “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến .Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động .Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho bài thơ “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa .

Hình ảnh thơ đẹp , ngôn từ tinh tế , giọng thơ êm đềm và những rung động man mác ,bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả . Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu của quê nhà .
 Nguồn: Báo Giáo dục TpHCM (http://giaoduc.edu.vn/)

Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Văn học lớp 9

1. HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ (NGÔ GIA VĂN PHÁI)
- Ghi chép lại việc vua Lê thống nhất đất nước.
2. ĐỒNG CHÍ (CHÍNH HỮU)
- Đồng chí là tên gọi của một tình cảm mới, đặc biệt xuất hiện và phổ biến trong những năm cách mạng và kháng chiến.
- Tên bài thơ gợi chủ đề tác phẩm: viết về tình đồng chí ở những người lính trong chống Pháp- những con người nông dân ra lính. Với họ tình đồng chí là một tình cảm mới mẻ.
- Tình đồng chí là cốt lõi, là bản chất sâu xa của sự gắn bó giữa những người lính cách mạng; là nốt nhấn và là lời khẳng định về tình đồng chí. (trong bài thơ tác giả đã tập trung làm nổi bật nội dung này.)
3. BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH (PHẠM TIẾN DUẬT)

- Nhan đề làm nổi bật một hình ảnh rất độc đáo của toàn bài và đó là hình ảnh hiếm gặp trong thơ - hình ảnh những chiếc xe không kính.
- Vẻ khác lạ còn ở hai chữ “ bài thơ” tưởng như rất thừa nhưng là sự khẳng định chất thơ của hiện thực, của tuổi trẻ hiên ngang, dũng cảm, vượt lên nhiều thiếu thốn, hiểm nguy của chiến tranh.

4. MÙA XUÂN NHO NHỎ (THANH HẢI)
-Tên bài thơ là một sáng tạo độc đáo, một phát hiện mới mẻ của nhà thơ.
- Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ là biếu tương cho những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất của sự sống và của cuộc đời mỗi con người.
- Thể hiện nguyện ước của nhà thơ muốn làm một mùa xuân,nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước của cuộc đời.
- Thể hiện quan điểm về sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng.

5. LÀNG (KIM LÂN)

- Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm, phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm với quê hương ,với đất nước.
- Làng ở đây cũng chính là cái Chợ Dầu mà ông Hai yêu như máu thịt của mình, nơi ấy với ông là niềm tin, là tình yêu và niềm tự hào vô bờ bến là quê hương đất nước thu nhỏ.
=> Tình cảm yêu làng yêu nước không chỉ là tình cảm của riêng ông Hai mà còn là tình cảm chung của những người dân Việt Nam thời kì ấy.
- Chủ đề của tác phẩm là viết về lòng yêu nước của người nông dân - làng nơi gần gũi, gắn bó với người nông dân, người ta không thể yêu nước nếu không yêu làng.

6. Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa”:

Tác giả đặt tên truyện là “Lặng lẽ Sa pa” vì Sa pa là nơi có khí hậu mát mẻ, trong lành, nơi có không gian tĩnh mịch, yên ắng, thơ mộng- nơi nghỉ mát nổi tiếng, lí tưởng. Thế nhưng, bên trong cái vỏ yên tĩnh, lặng lẽ ấy là cả một cuộc sống sôi động của những con người đầy trách nhiệm, tâm huyết đối với công việc, đối với đất nước.

Nhan đề “Lặng lẽ Sa pa” đã thể hiện rõ chủ đề của truyện: ca ngợi vẻ đẹp và ý nghĩa những công việc thầm lặng của các nhà khoa học ở Sa pa.

7. ÁNH TRĂNG (NGUYỄN DUY)
- Ánh trăng chỉ một thứ ánh sáng dịu hiền, ánh sáng ấy có thể len lỏi vào những nơi khuất lấp trong tâm hồn con người để thức tỉnh họ nhận ra những điều sai trái, hướng con người ta đến với những giá trị đích thực của cuộc sống.

8 . KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ (NGUYỄN KHOA ĐIỀM)

- Những em bé chứ không phải một em bé nhằm mang tính khái quát. Chỉ một thế hệ những con người lớn lên được nuôi dưỡng từ trên lưng mẹ. Người mẹ Tà Ôi trong tác phẩm cũng là đại diện cho các bà mẹ Việt Nam có tình yêu con gắn liền với tình yêu đất nước.

9. NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI (LÊ MINH KHUÊ)

- Những ngôi sao là biểu tượng cho vẻ đẹp anh hùng của những cô gái thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mĩ. Ở họ luôn có những phẩm chất tốt đẹp, có sức tỏa sáng kì diệu. Ánh sáng ấy không phô trương mà phải chịu khó tìm hiểu chúng ta mới cảm nhận được vẻ đẹp diệu kì. Các chị xứng đáng là “Những ngôi sao xa xôi” trên đỉnh Trường Sơn, những ngôi sao dẫn đường cho dân tộc Việt nam đi tới thắng lợi.

10. CHIẾC LƯỢC NGÀ (NGUYỄN QUANG SÁNG)
- Vì chiếc lược ngà là kỷ vật cuối cùng ông Sáu dành cho con.
- Là minh chứng cho tình cảm giữa hai cha con ông Sáu-> chiếc lược của hi vọng và niềm tin, là quà tặng của người đã khuất....


Nguồn: Báo Giáo dục TpHCM ( http://giaoduc.edu.vn/)

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Phân tích nhân vật Phương Định



Đề :
         Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ( trích)

     
           Lê Minh Khuê  là cây bút nữ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những tác phẩm đầu tay của bà ra mắt vào đầu những năm 1970 của thế kỉ XX và hầu như chỉ viết về  về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở chiến trường Trường Sơn. Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” là một  trong những tác phẩm  đầu tay của Lê Minh Khuê,  được sáng tác trong thời gian ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Lúc đó, bà đang là phóng viên thực tế ở chiến trường. Và, hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong ở chiến trườngTrường Sơn  đã đi vào trong truyện để sau đó tỏa sáng với những vẻ đẹp kì diệu về tâm hồn, về tinh thần dũng cảm và tinh thần đồng đội thân thương. Trong đó, nhân vật Phương Định là hình ảnh nổi bật.
Nhan đề “Những ngôi sao xa xôi” là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng rất đẹp, rất gần với hình ảnh “Mảnh trăng cuối rừng” của nhà văn Nguyễn Minh Châu. .Đó là vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái thanh niên xung phong Trường Sơn đang sống và làm việc giữa mưa bom bão đạn của quân thù.. Vẻ đẹp ấy đẹp, lãng mạn,lấp lánh giữa hiện thực khắc nghiệt và giữa đau thương mất mát.
Tác phẩm là câu chuyện kể về ba cô gái trong tổ trinh sát mặt đường tên Thao, Nho và Phương Định. Họ sống dưới chân một cao điểm trên tuyến đường trọng điểm của Trường Sơn, nơi hứng chịu trực tiếp những trận mưa bom của giặc Mĩ. Công việc của họ là “ đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe Nam tiến. Thần chết luôn “ lẫn trong ruột những quả bom”, thần kinh lúc nào cũng “căng như chão”. Trong lúc đơn vị công binh thường ra đường vào lúc mặt trời lặn, và làm việc có khi suốt đêm” thì tổ trinh sát lại “ chạy lên cao điểm cả ban ngày” dưới cái nóng trên ba mươi độ. Từ cao điểm trở về hang, cô nào cũng còn “ hai con mắt lấp lánh”, “ hàm răng loá lên” khi cười, khuôn mặt thì “ lem luốc”. Nhiệm vụ của họ thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ hi sinh. Từ trong hoàn cảnh nhọc nhằn vất vả ấy, ta thấy sáng ngời lên ở các cô những phẩm chất cao đẹp.
      Tiểu đội này tuy gồm ba người với những tính cách khác nhau, nhưng tình cảm của họ lại thân thiết như chị em ruột thịt. Họ yêu thương, lo lắng và chăm sóc cho nhau hết mực.Và các cô gái này tuy còn rất trẻ nhưng đều giống nhau ở những phẩm chất cao đẹp. Đó là tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ được giao,là lòng dũng cảm,o sợ hy sinh,là tình đồng bội gắn bó,là trái tim dễ xúc cảm,nhiều mơ ước và quan trọng hơn là tâm hồn thích làm đẹp cho cuộc sống. Và, nhân vật nổi bật và tiêu biểu nhất trong câu chuyện chính là Phương Định.
      Cô là một  cô gái Hà Nội đáng yêu, rời thành phố vào chiến trường đã ba năm, đối mặt với kẻ thù, có những trải nghiệm trong cuộc sống chiến đấu, thế nhưng cô vẫn giữ những nét hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng của một thiếu nữ Hà thành. Phương Định có nét đẹp duyên dáng “hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”. Đặc biệt đôi mắt cô rất đẹp “dài dài, màu nâu, hay nheo lại như chói nắng” được các anh lái xe nhận xét  “cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Vẻ đẹp của Phương Định làm cho nhiều anh pháo thủ và lái xe để ý. Phương Định thường được hỏi thăm, lại được nhận những bức thư dài gửi đường dây…. Cũng như bao cô gái khác, Phương Định rất quan tâm đến hình thức của mình, thích ngắm mắt mình trong gương , cũng ra vẻ kiêu kỳ làm điệu khi xuất hiện một  anh bộ đội “nói giỏi” nào đó. Thật ra, trong thâm tâm của cô “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”.
            Phương Định còn là một cô gái rất nhạy cảm, hay  mơ mộng và thích ca hát. Cô thích hát từ nhỏ. Cô có thể ngồi lên thành cửa sổ văn phòng của mình mà hát say sưa. Cô thích rất nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những ngả đường mặt trận, thích dân ca quan họ mềm mại dịu dàng, thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô, thích ngồi bó gối mơ màng  để hát những bài dân ca Ý trữ tình…Sống trong cảnh bom đạn ác liệc, đối diện với cái chết từng giây, từng phút, cô lại càng hát nhiều hơn. Thậm chí Phương Định còn bịa ra những lời để hát, những lời cô bịa  lộn xộn mà ngớ ngẩn đến cô cũng phải ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình… Cô hát trong những khoảnh khắc im lặng  khi máy bay trinh sát “ rè rè” trên đầu, khi cơn bão lửa sắp chụp xuống cao điểm.  Cô hát để động viên chị Thao, Nho và cũng để tự động viên mình…
            Không chỉ có vè ngoài xinh đẹp mà Phương Định còn có tâm hồn thật đẹp. Nổi bật lên ở Phương Định là tinh thần dũng cảm, thái độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy. Sau những đợt thả bom của giặc, Định chạy lên cao điểm đã bị đạn bom cày nát để làm nhiệm vụ. Nơi đó vẫn còn những quả bom chưa nổ. “Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom”. Nhưng, đối diện với cái chết, Phương Định vẫn bình thản, thậm chí còn thấy thú vị. Cũng có lúc cô cũng nghĩ đến cái chết, nhưng những  ý nghĩ đó chỉ “ mờ nhạt” và diễn ra thật nhanh, điều cô quan tâm nhất  “liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm thế nào để châm mìn lần thứ hai?” Mục tiêu trước mắt của Định là phải hoàn thành được nhiệm vụ nhanh chóng và an toàn nhất.
            Tuy vậy, tác giả  không hề lí tưởng hóa nhân vật. Cảm giác của Phương Định trong lúc phá bom cũng là những chi tiết chân thật về một cô gái có tâm hồn nhạy  cảm, khi lưỡi xẻng chạm vào quả bom âm thanh của kim loại chạm vào nhau và cũng cảm thấy “rùng mình” như Phương Định. Khung cảnh, không gian xung quanh cũng căng thẳng “vắng lặng đến phát sợ. “Cây còn lại xơ xác,không có gió”,tim cô “cũng đập không rõ”, chỉ nghe âm thanh tiếng kim đồng hồ.Phương Định hồi hộp, “mồ hôi thấm vào môi, mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng”. Cảm giác ấy là một cảm giác rất thực của con người trong cuộc chiến mà nhà văn không hề tô vẽ, không thần thánh hóa. Để từ đó vượt lên nỗi sợ hãi, cô gái hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, hành động anh hùng bắt đầu từ những điều tưởng chừng bé nhỏ như vậy.
      Phương Định còn  là một  cô gái có tình cảm đồng đội thắm thiết.  Biết Nho thích ăn kẹo, Phương Định trao cho Nho cái kẹo chanh cuối cùng dẫu còn dính đầy cát và chảy nước.Rồi khi còn một mình ở lại trong hang trực điện thoại, cô hết sức lo lắng cho đồng đội đang quan sát địch ném bom ở phía ngoài. Sự lo lắng, tâm trạng căng thẳng đã khiến cô nói như gắt vào máy với đại đội trưởng trong lúc báo cáo tình hình. Sau khi phá bom,Nho bị Thương,chảy máu,Định thay chị Thao chăm sóc cho Nho vì cô biết Thao sợ máu “đến xanh mặt”.Cô tận tình chăm sóc cho Nho hết mực, cô “moi đất, bế Nho đặt lên đùi mình”, “rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than”, “tiêm cho Nho”, “pha sữa trong cái ca sắt”.Hình ảnh Nho “nằm tinh tươm, sạch sẽ trên chiếc giường ghép bằng những thanh gỗ to” trái ngược hẳn với hình ảnh khi bị thương “da xanh đi, mắt nhắm nghiền, quần áo đầy bụi”. Đó chính là nhờ sự chăm sóc tận tình của Phương Định, sự chăm sóc của một người chị dành cho cô em gái.
      Ngược lại, Phương Định cũng cảm thấy tự tin, ấm lòng khi sống giữa tình cảm thương yêu của mọi người. Phương Định dành hết tình cảm trân trọng yêu thương quý mến của mình cho những người chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng chiến đấu với kẻ thù. Những  lúc chạy đi phá bom, cô cảm thấy an tâm hơn khi “cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ đang theo dõi mình” và cô quyết định “sẽ không đi khom”“các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới”. Niềm tin và sự quan tâm của đồng đội giúp cho cô thêm sức mạnh hoàn thành nhiệm vụ của mình.
      Rồi trận mưa đá bất ngờ ào đến,lại chợt đi,gợi lên trong kí ức Phương Định bao nhiêu hình ảnh của thành phố, quê hương, về mẹ… Cô nhớ cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố, hoặc là cây, hoặc là cái vòm tròn của nhà hát, hoặc bà bán kem đẩy cái xe chở đầy thùng kem, trẻ con háo hức bâu xung quanh...”. “vui thích cuống cuồng”, “niềm vui con trẻ lại nổ tung ra, say sưa, tràn đầy”. Tâm hồn của cô vẫn giữ được sự lãng mạn, dịu dàng giữa chiến trường đầy mưa bom bão đạn. Qua đó cho ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn cô gái trong sáng, lung linh như những ngôi sao trên bầu trời lấp lánh. Phương Định  và đồng đội là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam  trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước.
      Tác phẩm để lại ấn tượng cho người  đọc không chỉ bởi nội dung độc đáo mà còn bởi cách kể chuyện theo ngôi thứ nhất,nhân vật Phương Định  tự kể về mình và đồng đội đã khiến cho câu chuyện được diễn tả một cách chân thực cảm xúc và tâm trạng của những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu. Truyện còn sử dụng ngôn ngữ trần thuật tự nhiên, gần với khẩu ngữ, trẻ trung,nhịp kể lúc nhanh, lúc chậm thể hiện được nội tâm của nhân vật và thời gian truyện o theo trình tự thông thường mà theo nghệ thuật đồng hiện,hiện tại-quá khứ đan xen khiến cho câu chuyện thêm sức hấp dẫn.
                        Chiến tranh đã đi qua, nhưng những gì mà Lê Minh Khuê khắc hoạ qua chân dung Phương Định và các cô gái trong tổ trinh sát mặt đường trên cao điểm mãi mãi vẫn song trong lòng người. Bởi họ chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

                               (Lưu Trần Mỹ Duyên – Học sinh Trần Đại Nghĩa - NH: 2009- 2010)