Anh hẹn
chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi
gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt, "Ông lại bán xe rồi hay sao mà lại đi
tàu lên đây?".
Anh cúi
đầu trả lời lý nhí trong sự hổ thẹn, "Ừ, bán rồi, vì cũng không có nhu
cầu lắm". Chị sầm mặt xuống: "Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không
thể ngóc đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì
vậy?"
Khó
khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn
lắm mới có thể trả lời từ chối anh, "Nhưng mà gia đình tôi đang yên
lành, nếu đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên".
|
Anh năn nỉ, nhưng thật sự
là anh rất bối rối, con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần
gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ
lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ, em gần
nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian, để nó tập làm quen với
cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về".
Chị thở dài,
"Ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để
tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông
sau". Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống
như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở
lại Hamburg.
Anh và
chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao
động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức
tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây xin tị nạn. Chị tốt nghiệp Đại
học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và
chờ đợi nhau.
Khi
đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón
chị sang Đức.
Vừa sang
Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt. Đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa
tiệm buôn bán. Chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị
trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ
tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết
kiệm mấy năm trời mới được. Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn.
"Đồ cù lần, đồ đàn ông vô
dụng...", đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị
có bé Hương.
Bé Hương sinh thiếu
tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ
thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt
đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho
ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và
dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.
Bé
Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi,
sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh
là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận
thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.
Bé Hương
3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên
việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn
mẹ.
Biết vậy nên chị
cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm
thủ tục ly hôn.
Ly dị được gần 1
năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng
mới.
Thành phố Bremen là
1 thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu
khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói
với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.
Chị không
phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh.
Trong những dịp năm mới hay noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều
năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày
lễ giáng sinh nữa.
Thấm thoát đó
mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể
thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh
rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học
trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó
nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó
vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp
anh một số công việc lặt vặt trong nhà.
Chồng
chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện
trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé
thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt
đần đần dài dại của anh.
Vợ chồng
chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho
con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến
trường và tự về được.
Đi học về, nó cứ
thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố
dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện
thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ
nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó
nghe.
Em trai nó học
thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần
nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó
không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói
lỏm bỏm "... đàn... klavia... con muốn..." Anh thở dài và hát
cho nó nghe.
Tháng
đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần.
Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe
anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không
biết gì cứ mắng nó dở chứng.
Một đêm, chị
bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách,
thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong
miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con
bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị,
con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng
khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm
Chị đến gần sau
lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé
hát thầm thì cái gì. Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng
từng tiếng một, lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: "...Nhớ những
năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo...sống với cha êm như làn mây
trắng...nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con....với tháng năm
nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không...".
Chị vòng
tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm
như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào
lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt
của nó hỏi, con sao vậy hả con yêu của mẹ. Nó ngước nhìn mẹ nó rất trìu mến
rồi chìa cho mẹ nó một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.
Chị
cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi " Con biết bố
con bị ung thư lâu chưa?" Nó chìa 4 ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị
hỏi, 4 tháng rồi hả. Nó gật đầu. Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ
ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.
Con bé hốt
hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu
cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -" Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ
yên tâm. Con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ
về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm
đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở
bên con..."
Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói,
con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con
về Hamburg ...
|
Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ
thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị.
Khi thấy em
gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát
"Người Cha Yêu Dấu" bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn
cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong
ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
|